Không nên coi Thường Huấn chỉ là một phần phụ thêm cho chương trình đào tạo hiến định; đúng hơn, đó là sự hội nhập của cá nhân vào đoàn sủng riêng của Dòng. (QCHVC, số 6).
-----------------------------------------------------------------

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

CHÚA NHẬT CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA - A

Bài đọc 1 : Is 42, 1-4.6-7 : Đây là người tôi trung Ta quý mến hết lòng

Bài đọc 2 : Cv 10,34-38 : Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần mà xức dầu tấn phong Người.

Tin Mừng : Mt 3,13-17 : Chiu phép rửa xong, đức Giêsu thấy Thần Khí Thiên Chúa đến ngự trên Người.

Sứ Điệp Lời Chúa : Thiên Chúa cứu độ bằng nẻo đường tự hạ

1. Mạch sống trong cuộc đời đức Giêsu

Một cuốn phim đã gây xôn xao dư luận một thời, nhất là vào năm 1989, đó là phim “Cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa” (The last temptation of Christ, phỏng theo quyển tiểu thuyết cùng tên, của nhà văn Hy lạp Nilos Kazantzakis). Cuốn phim (và quyển tiểu thuyết) mô tả lúc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá, rời bỏ sứ mạng cứu thế để sống một cuộc đời bình thường. Ngài đi tìm lại nàng Madalena, cưới nàng làm vợ. Sau đó lại tìm đến với chị em Matta và Maria ở làng Betania và cũng cưới luôn hai chị em này làm vợ. Ngài có rất nhiều con và sống rất hạnh phúc.

Báo chí và các đài phát thanh đưa tin rằng khi cuốn phim được trình bầy chiếu lần đầu, những người có đạo đã đập phá rạp chiếu bóng tan tành, đến nỗi lần chiếu sau phải chiếu ở một rạp đặc biệt cô lập bởi chung quanh toàn là nước để khỏi bị đập phá lần nữa. Nếu tác giả mà viết như thế về Hồi giáo thì chắc chắn ông cũng sẽ bị mang cùng một số phận với Salman Rusdie, người đã bị giáo chủ Hồi giáo Khômeni kêu gọi mọi tín đồ Hồi giáo trên khắp thế giới hễ gặp mặt tác giả là có bổn phận phải giết ngay, lý do là Slman Rusdie đã viết một quyển sách có những điều bị cho là xúc phạm đến Hồi giáo, quyển sách mang tựa đề “Những vần thơ ác quỷ” (the satanic verses)

Thực ra, nếu chúng ta đọc được quyển “Cám dỗ cuối cùng của Chúa” của Nikos Kazantzakis, thì chúng ta sẽ thấy chẳng có gì xúc phạm cả. Tuy tác giả có nói Chúa Giêsu rời thập giá và cưới 3 người vợ, có nhiều con, nhưng đó chỉ là một cơn cám dỗ của Chúa thôi. Cuối cùng Chúa đã lắc đầu không theo cơn cám dỗ đó. Ngài tỉnh dậy vẫn thấy mình đang bị treo trên thánh giá, và Ngài hô lên một tiếng kêu chiến thắng “Thế là đã hoàn tất”, rồi Ngài tắt thở. Trong đoạn mở đầu, Nikos Kazantzakis cũng nói rõ quan điểm của ông khi viết quyển truyện này : Ông tin Chúa Giêsu su vừa là Chúa vừa là người, và ông muốn nhìn Ngài dưới khía cạnh người. Ông muốn tưởng tượng những cám dỗ và những chiến đấu vô cùng ác liệt mà con người Giêsu đã phải đương đầu, và đã anh dũng chiến thắng như thế nào, để càng thấy rõ Chúa Giêsu là mẫu mực cho con người chúng ta hơn, để càng cảm phục Ngài hơn, và để con người chúng ta can đảm hơn trong khi chiến đấu với những cơn cám dỗ của chúng ta. Ông đã tâm sự rằng “Trong khi viết... tôi đã cảm động đến phát khóc. Tôi chưa bao giờ cảm thấy máu của Chúa rơi từng giọt vào tim tôi với sự ngọt ngào như vậy, với nỗi đớn đau như vậy”. (Lm Hồ bạc Xái, Sợi chỉ đỏ, năm C, tập 1, tr 147-149).

Đúng là, theo ý tưởng của tác giả, cuốn sách và cuốn phim ấy không đến nỗi gì xúc phạm đến đức Giêsu. Nhưng có lẽ điều không hay của tác giả là đã không bắt được mạch sống trong cuộc đời đức Giêsu. Điều quan trọng nhất trong tâm tưởng và trong cuộc đời đức Giêsu không phải làm cám dỗ xác thịt, nhưng là thực hiện Thánh ý của Chúa Cha. Chính vì Thánh ý Chúa Cha mà đức Giêsu, khi 12 tuổi đã lựa chọn ở lại trong đền thờ; chính Thánh ý Cha là điều mà đức Giêsu cương quyết lựa chọn khi chịu phép rửa của Gioan và chiến đấu với Satan trong sa mạc; chính Thánh ý Cha về cuộc “xuất hành” là điều đức Giêsu cương quyết lãnh nhận khi biến hình trên núi; và đặc biệt nhất, trong vườn cây Dầu, đức Giêsu lựa chọn Thánh ý Cha ngay cả với giá là chính mạng sống của Ngài. Cũng thế, ta thấy đức Giêsu chỉ có một lần duy nhất tỏ bày niềm vui khi nhận ra Thánh ý Cha muốn mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn (Xc. Lc 10,21-22) 

2. Trong tình thân mật với Chúa Cha 

Chúng ta lại có thể nhận ra rằng hai lần Chúa Cha tuyên bố về Người Con Yêu Dấu, thì hai lần đó đều dính dáng tới việc đức Giêsu lựa chon đường lối cứu độ theo Ý Cha, tức là đường lối hạ mình xuống, chiều hướng “hạ giáng” như trong thư Philiphê 2, 6-11 : “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa…”

Lần thứ nhất thì chúng ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay : “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”; và lần thứ hai trong trong biến cố Hiển Dung, khi mà đức Giêsu đàm đạo với Elia và Môsê về cuộc “xuất hành” sắp tới. (Xc. Lc 9,31).

Như thế, chúng ta hiểu được tình thân mật của đức Giêsu với Chúa Cha, được tỏ bày trong Tin Mừng, không phải là một sự hòa đồng của bản tính, nhưng là một sự “chiều ý” nhau đầy tính cách ngã vị; không phải là một hòa hợp tự động, dễ dàng, đương nhiên, nhưng là kết quả một sự hy sinh, từ bỏ, chấp nhận khó khăn, đau khổ và chấp nhận cả cái chết vì muốn “chiều ý” nhau.

Quả thật tình thân của Chúa Cha với đức Giêsu được mạc khải trong Tin Mừng mang dáng vẻ một sự nghịch lý, một sự nghịch lý để diễn tả một thứ tình yêu đặc biệt của Thiên Chúa dành cho con người.

“Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16)

Điều nghịch lý ấy đã được tỏ bày trong bài ca về Người Tôi Trung trong bài đọc 1, sách ngôn sứ Isaia; và đó là một nghịch lý mà người Do Thái không thể chấp nhận, nghịch lý của Thập giá (Xc. I Cr 1, 17-25)

3. Bản Phác họa đường lối cứu độ

Mặc dù phép rửa của Gioan không phải là phép rửa có sức cứu độ, nhưng nguyên khái niệm “phép rửa” cũng cho chúng ta thấy một sự khởi đầu mới.

Đức Giêsu bước vào sứ vụ công khai của Ngài với biến cố chịu phép rửa của Gioan, và trình thuật Tin Mừng hôm nay cũng như ý nghĩa căn bản của ngày lễ đức Giêsu chịu phép rửa, được trình bày như một bản phác họa toàn bộ chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Ý nghĩa của bản phác họa này cho thấy mầu sắc “trầm trọng” của Kitô giáo. Quả thật điều chính yếu trong Kitô giáo là vấn đề cứu độ, vấn đề dính dáng tới vận mạng quan trọng của đời người. Kitô giáo ít mang mầu sắc của thứ niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát, hồn nhiên, dễ thương…, nhưng có mầu sắc của thứ đạo “vui-mừng”, của một sự “vượt qua”, của một niềm hy vọng gắn với vấn đề sống-chết. Đó là mầu sắc của thập-giá đau thương và máu me luôn hiện diện trong mọi nhà thờ và mọi bàn thờ, trong việc làm dấu Thánh giá thường ngày và việc ghi dấu Thánh giá trong mọi nghi thức.

Một cách nào đó, ta thấy đức Giêsu “vui cho ra vui” vì niềm vui gắn liền với Thánh ý nghịch lý của Chúa Cha; đức Giêsu “giận cho ra giận”, khi mà sinh hoạt phượng tự của người Do thái bị biến chất một cách căn bản (Xc. Ga 3-22: đức Giêsu thanh tẩy đền thờ); đức Giêsu khiển trách nặng lời với thái độ giả hình của những người Biệt phái khi mà họ biến đạo cứu độ thành thứ đạo luân lý…

Chắc chắn Kitô giáo không loại bỏ thứ niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát,… nhưng điều chính yếu mang lại niềm vui và hạnh phúc thật cho con người, theo Kitô giáo, không phải là một sự giác ngộ để trở về với bản tính đơn sơ, hồn nhiên vốn có của con người, mà là một quá trình vượt qua những hậu quả nặng nề của tội lỗi, một thực tại “lù lù”, thực tại mà con người không phải chỉ vì ảo tưởng mà tạo ra, nhưng phải “mang vác” như một hình phạt nặng nề.
Tạm kết

Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa cho thấy trước hành trình thập giá của Chúa và mời gọi mỗi người Kitô hữu can đảm vác thập giá của với Ngài.

=> Đọc thêm...

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

CHÚA NHẬT CHÚA HIỂN LINH

Bài đọc 1 : Is 60,1-6 : “Vinh quang của đức Chúa chiếu tỏa trên ngươi”

Bài đọc 2 : Ep 3,2-3a.5-6 : “Nay mầu nhiệm được mặc khải là các dân ngoại được cùng thừa kế gia ngihiệp”

Tin Mừng : Mt 2,1-12 : “Từ phương Đông chúng tôi đến bái lạy Người”

Sứ Điệp Lời Chúa : Chương trình của Chúa và thái độ của con người.

1. Nghịch lý của muôn đời

Dân Israen được chọn làm Dân riêng, vì Chúa yêu thương Dân, và để Dân trở nên lời chứng về nhiệm cục cứu độ của Chúa. Dân riêng của Chúa sẽ cộng tác tốt đẹp vào nhiệm cục cứu độ của Chúa khi trung tín với Chúa, khi thành tâm với chính mình, khi ý thức hồng ân và trách nhiệm của mình, với Chúa và với muôn dân.

Thế nhưng trong biến cố các nhà chiêm tinh phương đông đi tìm Chúa, thì ta lại thấy, chẳng những vua Hêrôđê tìm cách phá chương trình của Chúa, nhưng còn có sự mâu thuẫn lạ lùng của những thượng tế kinh sư, và cả đám đông dân chúng. “Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao”; nhưng tất cả lại vẫn an ổn trong đời sống hằng ngày của mình.

Sự im ắng lạ lùng của một Dân tộc được chuẩn bị suốt 18 thế kỷ để đón chờ Đấng Mêsiah, sự im ắng đó thật là nghịch lý.

Hình như có một sự giằng co giữa sứ vụ của một tập thể và sự ổn định của đời sống riêng mỗi người, mà cuối cùng phần thắng thường nghiêng về cá nhân. Điều đó vốn là thực trạng muôn đời của kiếp người; và nghịch lý đó vẫn còn trong đời sống Giáo hội hiện nay, với những Đấng bậc và với người tín hữu bình thường hiện nay. Đặc biệt với Giáo hội Việt Nam, chúng ta có thể thấy một thứ ưu tiên của thực tế, theo đó, các đấng bậc vẫn chỉ ưu tiên phục vụ chiên trong đàn và phục vụ chiên ngoan, và người tín hữu vốn chỉ bận tâm ổn định đời sống của mình, miễn sao đừng mất linh hồn mình là được. 

2. Chương trình của Chúa

Tuy nhiên, khi mà con người không cộng tác vào chương trình của Chúa thì Chúa vẫn có thể, cách này cách khác, thực hiện chương trình của Ngài.

Thật ra, lòng khao khát ơn cứu độ vốn đã được ươm mầm trong tâm khảm con người, và từ xưa đến nay, thế giới không hề thiếu vắng những “nhà chiêm tinh từ phương đông”. Lời kêu mời của Chúa vang vọng khắp nơi và chính Dân riêng của Chúa lại được nhắc nhớ, được thôi thúc do từ lòng nhiệt tâm của những người “bên ngoài”. Đây cũng là thực trạng muôn đời trong dòng lịch sử của Giáo hội. 

Mặc khác, Thiên Chúa chẳng bỏ đi chương trình của Ngài để làm lại từ đầu, Ngài “tận dụng” cả sự gian ác của Hêrôđê, Ngài tận dụng những “kiến thức” của một Dân được sống trong dòng lịch sử của lời hứa, để tỏ mình ra cho dân ngoại, để đến được với những tấm lòng khao khát chân thành.

Sự cứng lòng của Dân riêng không thể cản trở chương trình của Thiên Chúa, nhưng chỉ có thể tự cản trở chính mình. Mầu nhiệm Hiển Linh nằm trong nhiệm cục căn bản của Thiên Chúa, và những ai cản phá, những ai không đón nhận, những ai đánh mất cơ duyên Chúa ban cho mình,... sẽ phải mở to mắt để thấy quyền năng và tình yêu lớn lao của Chúa. 

3. Gặp gỡ

Kitô giáo khẳng định trong con người có một nỗi niềm khao khát Thiên Chúa, niềm khao khát sâu xa, niềm khao khát ẩn tàng, niềm khao khát âm ỉ. Thánh Âu Tinh nhận ra niềm khao khát ấy và buộc miệng kêu lên : Lạy Chúa, Chúa dựng nên con vì Chúa, nên hồn con xao xuyến mãi cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa.

Niềm khao khát Thiên Chúa ấy khiến cho con người chẳng thể an ổn trong những thỏa mãn tương đối, khiến cho con người không ngừng khao khát cái hơn nữa, khao khát tìm kiếm CÁI KHÁC, khiến cho con người không ngừng tìm vươn lên mãi trong mọi lãnh vực của đời sống con người.

Hành trình ấy không phải là một ảo tưởng, không phải là một nỗi đe dọa vong thân, không phải thái độ bỏ mồi bắt bóng; bởi vì với những ai thành thật với mình, “cởi trói” cho lòng khát khát vô biên trong bản thân mình, người đó sẽ có được kinh nghiệm gặp gỡ cái tuyệt đối, hay đúng hơn là gặp gỡ Đấng Tuyệt Đối.

“Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người...”.

Không có gì đặc biệt nơi một Hài nhi, nơi một bà mẹ, thế nhưng đó lại là diểm đến của một hành trình tìm kiếm; và chính từ hành trình tìm kiếm ấy giúp các nhà chiêm tinh mới có được một sự gặp gỡ đích thực. Khi đó, niềm vui bùng vỡ; niềm xác tín trở nên vững chắc, không thể lay chuyển; và đưa đến thái độ thờ lạy...

Tạm kết

Trọng tâm của bản chất người chính là “tinh thần nhập thể”, là linh hồn “ẩn dấu trong thân xác”. Trong đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Chúa làm người, chúng ta hiểu ra được huyền nhiệm của chính con người.

Như thế, cuộc sống con người nơi trần gian này vốn là một sự “trộn lẫn” giữa linh thiêng và thế tục, giữa tương đối và tuyệt đối, giữa kinh nghiệm cá nhân và những “hướng dẫn bên ngoài”...

Thật ra, mầu nhiệm Thiên Chúa Hiển Linh được tỏ bầy qua kiến thức Kinh Thánh của các kinh sư, qua “ánh sao lạ” của những biến cố trong cuộc sống, qua thời điềm,... cũng phải đồng thời là sự hiển linh của Thiên Chúa trong tâm khảm của con người, con người như một “nhà chiêm tinh từ phương đông”.
=> Đọc thêm...

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG – A

Bài đọc 1 : Is 11, 1-10 : “Chúa sẽ xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng”

Bài đọc 2 : Rm 15,4-9 : “Đức Kitô cứu độ hết mọi người”

Tin Mừng : Mt 3,11-12 : “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”

Sứ điệp Lời Chúa : Sám hối để được lãnh nhận 

1. Hành động hay chờ đợi ?

Mùa Vọng được cử hành trong bầu khí phụng vụ mầu tím, đó là mầu của sám hối, ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Thế nhưng hình như bầu khí Giáng Sinh đã được/bị đưa đẩy vượt ra khỏi lãnh vực của “mùa Phụng vụ” đích thực, lãnh vực của đời sống đức tin, để trở thành dịp buôn bán trong các cửa tiệm, trở thành cơ hội vui chơi trong các tụ điểm và trở thành một thứ lễ hội ngay cả trong sinh hoạt nhà thờ. Niềm vui Giáng sinh thật là linh thánh và thật dễ thương, nhưng đó là niềm vui chân thật do Chúa ban.

Tinh thần của thời đại ngày nay luôn đề cao lòng tự tín, thúc đẩy tinh thần hành động, khuyến khích thái độ tự nỗ lực để đạt được điều mình mong ước… Nói chung, đó là những thái độ nhân bản tốt đẹp. Tuy nhiên, trong đời sống đức Tin, những não trạng và thái độ như thế lại không kém nguy hiểm.

Trong khi đó, đức Tin đặt người Kitô hữu trong một khởi điểm : con người được tạo dựng từ hư vô. Đức Tin nhắc nhở người Kitô hữu : mọi sự đều là hồng ân tặng không của Thiên Chúa. Đức Tin mời gọi người Kitô hữu sống tinh thần sám hối, chờ đợi, chuẩn bị để được lãnh nhận…

Đời sống đức Tin không chống lại các đức tinh nhân bản, nhưng đặt tất cả những đức tính như lòng tự tín, thái độ tích cực hành động… trên nền tảng “sống với Chúa”, và xác định tất cả những đức tính nhân bản ấy phát xuất từ lòng tri ân về những gì Chúa đã tặng không cho mình.

Không có đức Tin, những đức tính nhân bản là “bảng điểm” của một “bài thi” về năng lực của mỗi người. Với đức Tin, những đức tính nhân bản là hoa trái của tình nghĩa, thứ tình nghĩa mà chính Chúa đã đi bước trước, đã tặng không cho mỗi nguời.

Con người ngày nay không muốn chờ đợi, nhưng muốn tự mình tạo ra niềm vui cho mình, tự mình hoàn thành những khao khát của mình. Ngay từ đầu mùa Vọng, bầu không khí của niềm vui đã nhen nhúm, nhưng nhiều người đã muốn giành lấy niềm vui đó bằng năng lực của mình, tự tạo niềm vui cho mình bằng những sinh hoạt, tổ chức, chuẩn bị bên ngoài nhiều hơn là chuẩn bị tâm hồn… Nguy hiểm hơn nữa, có những người lại nỗ lực “chuẩn bị tâm hồn” như một sự đổi chác xứng đáng để đòi được ơn phúc. 

2. Dừng lại nơi sứ điệp sám hối của Gioan

Người Kitô hữu thường chuẩn bị đón mừng lễ Giáng sinh và việc xưng tội, đó là một “thói quen” tốt lành, tuy rằng đó chưa hẳn là một tâm tình sám hối sâu xa và chân thật. Hình như người Kitô hữu chuẩn bị để đón Ngày Lễ Giáng Sinh hơn là đón Chúa đến trong tâm hồn, trong gia đình, trong giáo xứ…của mình. Một cách nào đó, việc sám hối của người tín hữu ngày nay vẫn dừng lại ở mức độ như những người Do Thái từ Giêrusalen, khắp miền Giuđê, vùng ven sống Giođan, những người Pharisêu, những người Xađốc tuốn đến với Gioan Tẩy Giả… 

Sứ điệp sám hối của Gioan Tẩy giả “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. Gioan mở ra một chân trời rộng lớn hơn : “Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh bằng Thánh Thần và bằng lửa”.

Quả thật, đời sống đức tin của người tín hữu Việt Nam, mặc dù vẫn giữ đời sống đạo tốt lành, nhưng chưa mở toang ra với thế giới ân sủng của Thánh Thần. 

3. Niềm vui bao la chân thật

Cuộc sống của dân Việt quá khó khăn khiến cho người Việt bằng lòng với những niềm vui nhỏ bé. Người Kitô hữu chưa biết cảm nếm niềm vui chân thật, niềm vui sâu xa và niềm vui mở ra một chân trời vô cùng bao la. 

Trong bài đọc 1, Isaia đã mở ra một chân trời mơ ước; thế giới của quyền năng Thiên Chúa, thế giới của hoà bình, an vui, và thế giới ấy được điều hành do một “Mầm Non” từ gốc tổ Giesê, được đầy tràn Thần Khí của đức Chúa :

“Ngày ấy, từ gốc tổ Giesê sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một Mầm non. Thần Khí Đức Chúa sẽ ngự trị trên vị này : thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa”

Sứ điệp căn bản của Gioan Tẩy Giả là “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”.

Sám hối đích thực là sám hối vì Nước Trời chứ không phải chỉ so chiếu với Mười Điều Răn. Trong Bài giảng Trên Núi, chúng ta thấy đức Giêsu mở ra một chân trời siêu việt, Chúa mời gọi nên hoàn thiện như Cha trên trời, yêu thương kẻ thù, thực hiện trước điều mình muốn người khác làm cho mình…Chân trời của mơ ước của con người được rộng mở cho tới tuyệt đối, chính điều đó sẽ đặt con người trước sự bất lực căn bản và mở lòng ra cho sự tác động của Thánh Thần. Chỉ khi đó, người Kitô hữu mới có thể tìm thấy niềm vui lớn của lễ Giáng Sinh sắp đến. 

Tạm kết

Khao khát, chờ đợi hồng ân của Chúa, đó là tinh thần của người Kitô hữu, và tinh thần được Giáo hội nhắc nhủ trong mùa Vọng. Khao khát và chờ đợi để có thể bước vào một thế giới mới của Chúa nhờ ơn sủng của Thánh Thần.



=> Đọc thêm...

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG – A

Bài đọc 1 : Is 2, 1-5 : Đức Chúa quy tụ muôn dân cho hưởng hoà bình vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa

Bài đọc 2 : Rm 13, 11-14a : Ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn.

Tin Mừng : Mt 24, 37-44 : Anh em hãy canh thức để được sẵn sàng.

Sứ điệp Lời Chúa : Vững lòng Trông Cậy chờ Chúa đến

1. Trần gian và Nước Chúa

Kitô giáo từng bị tố cáo là đã “bỏ mồi bắt bóng”, thay vì xây dựng cuộc sống này, thì lại trốn tránh thực tại để mơ mộng một thiên đàng mai sau. Lời tố cáo ấy không phải là không đúng với một số biểu hiện trong đời sống Giáo hội, không phải là không đúng với một số thái độ sống đức tin của người Kitô hữu.

Công đồng Vatican II nhắc nhở : niềm khát mong cuộc sống mai sau không được làm cho chúng ta coi thường cuộc sống hiện tại….

Đức Tin Kitô giáo chân chính không coi thường cuộc sống trần gian, nhưng cũng không bám chặt vào cuộc sống trần gian này. Đức Tin Kitô giáo tôn trọng vận mạng con người đến cùng, một vận mạng cao quí mà, ở trần gian này không ai được quyền vùi dập; và đó là một vận mạng chỉ thành toàn trong cuộc sống trọn vẹn mai sau. Đức Tin Kitô giáo, vì thiết tha với vận mạng cao quí của con người, nên không thể nào không cảnh giác một thái độ giản lược vận mạng ấy vào những thành tựu chóng qua trong cuộc sống hiện tại. Lời kêu gọi canh thức của Kitô giáo có nghĩa là trung tín chờ đợi Chủ về, và trung tín chờ đợi bằng việc chu toàn bổn phận của mình trong đời sống hằng ngày.

2. Mơ ước lớn lao của con người

Một cách nào đó, có thể nói con người là “sinh vật mơ ước”. Con vật thì bị thúc bách do nhu cầu trước mắt; rồi khi thoả mãn được nhu cầu ấy, con vật an ổn. Trong khi đó, con người thì không bao giờ ngừng lại trong những nhu cầu trước mắt; con người có niềm mơ ước vô biên. Trong cảnh nghèo khổ, người ta có thể chỉ mơ ước một bữa cơm no. Nhưng khi có được một hoặc nhiều bữa cơm no, người ta sẽ lại mơ ước những bữa cơm ngon,… và cứ mơ ước hơn nữa, hơn mãi…

Cuộc sống trần gian của con người chưa bao giờ hoàn hảo và sẽ chẳng bao giờ hoàn hảo hoàn toàn được. Thế giới còn có biết bao nhiêu người đói, biết bao nhiêu người bệnh tật, biết bao nhiêu đứa trẻ thất học, biết bao người bị oan ức, biết bao nhiêu nhiêu bị giam hãm trong thói hư tất xấu… Thân xác con người đẹp đẽ biết bao nhưng lại không thể chống lại sự già nua, bệnh tật và cái chết. Tình nghĩa của con người tha thiết ngọt ngào biết bao, nhưng lại luôn có sự xuất hiện của chia ly… Dấu ấn “mơ ước” ấy rõ ràng in đậm trên lịch sử con người. Bài đọc 1 cho thấy niềm mơ ước Hoà Bình Vĩnh Cửu của Dân Chúa, và cũng là mơ ước của mọi con người.

Một con người không còn mơ ước hơn nữa, mơ ước cho mình hơn nữa và mơ ước cho tha nhân được tốt đẹp hơn nữa, thì con người ấy không còn dáng vẻ một con người đích thực nữa.

3. Canh thức Kitô giáo

Quả thật có nguy cơ của một thái độ không biết trân trọng cuộc sống trần gian, trốn chạy cuộc sống trần gian để trốn vào cơn mộng về cuộc sống trên thiên đình. Nhưng cũng có mối nguy cơ của thái độ giản lược vận mạng cao quí của con người thành kẻ hưởng thụ; thành kẻ chỉ biết tìm sung sướng mà không biết nếm cảm hạnh phúc đích thực; thành kẻ bất lực đành chấp nhận sự dở dang của kiếp người.

Canh thức Kitô giáo, trước tiên, là thái độ tỉnh thức để nhận ra Chúa đến “lần thứ 3” (theo kiểu nói của các giáo phụ, Chúa đến lần thứ 3 ở giữa hai lần Chúa đến, nghĩa là lần thứ 3 “trước” lần thứ 2), nghĩa là Chúa đến hằng ngày trong cuộc sống trần gian. Chúa Giêsu đã thiết lập Nước Trời như hạt cải nhỏ bé, như kho tàng chôn dấu, như một chút men trong thúng bột…và ở đâu có sự hiện diện của đức Giêsu thì hạt cải Nước Trời được tỏ lộ ở đó.

Nhưng Chúa đến lần thứ 3 như dấu chỉ, như một chút ánh sáng loé lên, như dáng vẻ lung lung giữa sáng và tối trong cuộc sống này. Chỉ khi nào Chúa đến lần thứ 2 trong ngày Quang Lâm, trong vẻ huy hoàng của quyền năng Chúa, thì khi ấy Chúa mới hoàn thành trọn vẹn ước mơ lớn của đời người.

Nếu trốn chạy cuộc đời này, người ta sẽ không thể nhận ra ánh sáng dẫn đường từ việc Chúa đến lần thứ 3, và sẽ không thể đón chờ ngày Chúa đến lần thứ 2 một cách đúng đắn. 

Tạm kết

Người Kitô hữu là người luôn tha thiết với vận mạng con người nên không thể mơ ước một thế giới tốt đẹp hơn. Người Kitô hữu, nhờ luôn mong chờ Ngày Quang lâm, nên có thể tỉnh thức để nhận ra những “dấu chỉ” Chúa đang đến trong cuộc sống hằng ngày và luôn được thêm sức mạnh nhờ đức Cậy.

Tỉnh thức nghĩa là vững lòng trông Cậy, nhờ việc đọc ra được, dưới ánh sáng đức Tin, dấu chỉ loan báo Chúa vẫn đang đến.
=> Đọc thêm...

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

CHUẨN BỊ ĐÓN CHỜ CHÚA ĐẾN

TĨNH TÂM MÙA VỌNG - 2013

Chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Vọng. Vọng có nghĩa là đợi chờ. Mùa Vọng là mùa đón chờ Chúa đến. Vì Chúa đến cách bất ngờ không ai hay biết trước được, nên ta hãy chuẩn bị đón chờ Chúa đến, chuẩn bị bằng cách nghe theo lời mời gọi của Gioan Tẩy Giả trong bài Tin Mừng, đó là : Hãy sám hối; hãy dọn đường cho Chúa; và hãy sống phục vụ trong khiêm nhường. 

Như vậy chủ đề của buổi tĩnh tâm hôm nay là “Chuẩn bị đón chờ Chúa đến”. Chuẩn bị qua ba việc, đó là sám hối; dọn đường cho Chúa; và sống khiêm nhường phục vụ. 

1- Bước chuẩn bị thứ nhất là SÁM HỐI : 


- Sám hối là gì ? Sám hối gồm hai động tác: động tác thứ nhất là đoạn tuyệt với tội lỗi; động tác thứ hai là hướng về Chúa. Sám hối là nhìn nhận mình đã gieo rắc bao gương mù gương xấu, khiến khuôn mặt Đức Giêsu trở nên méo mó dị dạng trước mặt người đời. Sám hối là tự vấn lương tâm về những hành động gây chia rẽ trong gia đình, trong cộng đoàn, trong họ đạo. Sám hối là ăn năn về những cử chỉ thiếu khoan dung, về việc đôi khi ta dùng áp lực để bắt người khác phải theo ý mình. Sám hối là nhìn nhận phần trách nhiệm của ta trước sự ác, sự bất công và thiếu vắng tình thương trong thế giới hôm nay. Tuy nhiên, sám hối không chỉ dừng lại ở đó để mà đấm ngực và than khóc; sám hối còn đòi hỏi ta hướng về Chúa, Đấng là Chân, Thiện, Mỹ; đòi hỏi ta lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc đời, nhờ đó, ta không còn đi trong bóng tối, đi theo những đường nẻo lầm lạc, vì “Lời Chúa là đèn soi chân con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”. 

- Mặt khác, theo lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả, sự sám hối đúng nghĩa có hai đặc tính: 

* Đặc tính thứ nhất là triệt để 

Sám hối không chỉ là thực hiện cho xong một nghi thức. Thí dụ : Đạo gốc, đạo dòng. Mùa Vọng, Mùa Chay tôi đi xưng tội theo kiểu “đến hẹn lại lên” rồi thôi ! Tin Mừng cho biết, những người thuộc nhóm Pharisêu và Xađốc đến xin Gioan làm phép rửa cho. Họ đến vì thấy người khác đi, nên họ cũng đi để trấn an lương tâm; do đó, Gioan Tẩy giả đã quở trách họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy ? Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối” (Mt 3,7-8). 

Như vậy, theo lời Gioan Tẩy giả, sám hối đòi hỏi phải triệt để thay đổi cuộc sống, phải phát sinh hoa trái là những việc lành. Gương điển hình của sự sám hối đích thực là ông trưởng ban thu thuế Giakêu. Sau khi gặp gỡ Đức Giêsu, Giakêu tuyên bố: ông dành một nửa tài sản để chia cho người nghèo, và nếu ông có làm thiệt hại cho ai thì ông sẽ đền bù gấp bốn, nghĩa là ông muốn sống công bằng, sống bác ái. Và Đức Giêsu nói với ông: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến nơi nhà này…” 

* Đặc tính thứ hai của sám hối là sự cấp bách và khẩn trương. 

Ta không thể nói: Từ từ rồi tôi sẽ sám hối, hoặc chờ gần đến ngày Giáng Sinh tôi sẽ sám hối, mà phải sám hối ngay, vì ta không biết ngày nào, giờ nào Chúa sẽ đến gọi ta. Để diễn tả tính cấp bách và sự khẩn trương của sám hối, Gioan Tẩy giả nói: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây, bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3,10) 

- Cuối cùng, để có thể sám hối, ta cần phải có ơn Chúa trợ lực. Tự sức mình, ta không thể sám hối, cần phải dựa vào sức Chúa. Thánh Âu-tinh cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, xin ngoảnh lại với con, để con có thể ngoảnh lại với Chúa”. Chúa vẫn luôn luôn ngoảnh lại với ta, vấn đề là ta có nhận ra, và đáp trả bằng cách ngoảnh lại với Chúa không ? 

Tóm lại, vào mỗi Mùa Vọng, Giáo Hội thường kêu gọi ta hãy sám hối để chuẩn bị đón Chúa. Trong buổi tĩnh tâm này, xin Chúa mở rộng đôi tai của ta, mở rộng tâm hồn của ta, để ta lắng nghe tiếng Chúa, đón nhận ân sủng Chúa, nhờ đó, ta có thể sám hối chân thành bằng cách sinh hoa trái là những việc lành phúc đức. Có như vậy thì Mùa Vọng này sẽ là một khởi điểm mới cho cuộc sống đức tin của chúng ta. 

2- Bước chuẩn bị thứ hai là DỌN ĐƯỜNG cho Chúa 


- Con đường mà Tin Mừng nói ở đây không phải là con đường bằng đất đá, bằng xi măng hay bằng nhựa, cũng chẳng phải là đường bộ, đường thủy hay đường hàng không; nhưng “con đường” ở đây là hình bóng những con đường trong đời người, ta vẫn bảo: ĐƯỜNG ĐỜI ! Kinh nghiệm cho thấy, trong cuộc đời, có những con đường khác nhau mà ta đang đi trên đó. 

* Có những con đường rào dây kẽm gai, không cho người qua kẻ lại. Đó là con đường của những thù hận, ganh ghét, đố kỵ nhau. Nó ngăn chặn những mối tương giao, những cuộc đối thoại. Hệ quả là người ta sống bên cạnh nhau, nhưng không sống với nhau và không sống cho nhau. Mỗi người là một ốc đảo, khép kín trong cái tôi của mình. 

* Có những con đường đầy hố tử thần, đầy ổ gà, ổ voi. Đó là con đường của những kẻ cạnh tranh nhau, chờ cơ hội để làm hại, soi bói, xét nét nhau. Rút cục, cuộc sống trở nên ngột ngạt, nặng nề, khó thở. 

* Có những con đường hầm âm u tăm tối. Đó là con đường của những kẻ gian dối lọc lừa, ngoài miệng thì niệm Nam mô, trong bụng thì một bồ dao găm. Hệ quả là người ta dè chừng, lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác, chẳng còn tin nơi nhau, mà mất niềm tin là mất tất cả. 

* Có những con đường hun hút sâu trong rừng rậm. Đó là con đường của những kẻ sống lén lút trong tình trạng tội lỗi, nhưng vẫn xuất hiện trước mắt mọi người với dáng vẻ thật là tốt đẹp, thật là thiện hảo. Hệ quả là ta đeo mặt nạ, ta đóng kịch với nhau. 

* Có những con đường chẻ ra nhiều nhánh, chẳng biết đi theo nhánh nào. Đó là con đường của những người không có lập trường. Họ như cây sậy phất phơ trước gió (x. Mt 11,7), gió thổi chiều nào thì ngả theo chiều ấy. 

* Có những con đường gồ ghề lồi lõm. Đó là con đường của những ai mang tật xấu khó từ bỏ : Hoặc kiêu căng tự mãn, hoặc hà tiện ích kỷ, hoặc đam mê sắc dục, hoặc nóng nảy lắm lời. 

* Có những con đường cỏ dại mọc đầy. Đó là con đường của những người không mắc tội nặng, nhưng có rất nhiều tội nhẹ. Tội nhẹ không giết chết tâm hồn, nhưng nó làm tâm hồn trở nên suy yếu, làm giảm sức đề kháng, khiến người ta khó lòng chống đỡ trước những khó khăn thách đố, hay những cám dỗ cuốn hút người ta lìa xa Chúa. 

* Có những con đường sa mạc cát nóng. Đó là con đường của những người khô khan nguội lạnh, những người dửng dưng vô cảm, những người có trái tim khô, trái tim mùa đông! 

Như vậy, hãy dọn đường cho Chúa, có nghĩa là hãy điều chỉnh, uốn nắn, phát quang những con đường đan dệt nên đời tôi, sao cho con đường đời tôi trở nên bằng phẳng và thẳng tắp, con đường hai chiều đưa tôi đến với Chúa, và đưa Chúa đến với tôi. 

3- Bước chuẩn bị III là sống KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ. 


- Gioan Tẩy giả rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người” (Mc 1,7). “Xách dép” hay “cởi quai dép”, đó là hành động của nô lệ đối với chủ. Như vậy, Gioan nhìn nhận mình là nô lệ, còn Đức Giêsu, Đấng đến sau ông là ông chủ. Gioan Tẩy giả xuất hiện trước mắt chúng ta như một con người biết phục vụ trong khiêm nhường. 

- Khi người Do thái cử một số tư tế và Lêvi đến hỏi Gioan Tẩy Giả: “Ông là ai? Gioan trả lời: ‘Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: _ Hãy sửa đường cho thẳng, để Đức Chúa đi” (Ga 1,23). Gioan là “tiếng hô” chuẩn bị cho “Lời” là Đức Giêsu. “Tiếng” đi trước “Lời”, tiếng diễn tả Lời; Lời đến thì tiếng tắt. Tiếng hết nhưng Lời còn đọng lại trong tâm trí người nghe, Lời đòi hỏi con người phải suy nghĩ và chọn lựa thái độ, hoặc đón nhận, hoặc khước từ. 

- Tin Mừng IV còn cho ta biết rõ nét hơn về sự khiêm nhường của Gioan Tẩy giả. 

Số là, sau khi được Gioan Tẩy giả thanh tẩy, Đức Giêsu và các môn đệ Ngài cũng làm phép rửa, và có nhiều người đến với Đức Giêsu. Thấy vậy, môn đệ Gioan Tẩy giả đã báo cáo với thầy mình rằng: “Thưa thầy, người trước đây đã ở với thầy bên kia sông Giođan và được thầy làm chứng cho, bây giờ ông ấy cũng đang làm phép rửa, và thiên hạ đều đến với ông” (Ga 3,26). Lời thông tin này vừa bộc lộ sự ghen tỵ bực tức, vừa bày tỏ nỗi lo lắng. Các môn đệ Gioan Tẩy giả không muốn thầy của họ bị mất ảnh hưởng, bị xếp hàng thứ hai sau Đức Giêsu. Thế nhưng câu trả lời của Gioan Tẩy giả khiến môn đệ ông chưng hửng. Gioan nói với họ 3 điểm: 

* Điểm thứ nhất: Gioan bảo: “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” (Ga 3,27). Câu này có nghĩa là, sở dĩ Đức Giêsu thu hút được nhiều người theo Ngài, ấy là vì Thiên Chúa đã ban ơn ấy cho Ngài, chứ không phải Đức Giêsu muốn tranh giành uy tín và ảnh hưởng với Gioan. Cũng vậy, trong đời sống, ta sẽ thoát được biết bao nỗi ganh tỵ, nếu ta đừng nghĩ đến uy tín và quyền lợi cá nhân mình, nhưng ta nghĩ đến lợi ích chung và kế hoạch của Thiên Chúa. Ta sẽ thoát được sự bực tức và đau lòng, nếu ta nhận ra rằng sự thành công của người khác là do ơn Chúa ban cho họ, đồng thời ta khiêm tốn chấp nhận thực trạng và thực lực của mình. 

* Điểm thứ hai: Gioan nói tiếp với các môn đệ: “Chính anh em làm chứng cho thầy là thầy đã nói : tôi đây không phải là Đấng Kitô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người” (Ga 3,28). Qua câu này, Gioan khẳng định, vị trí của ông không phải là đứng đầu, mà ông chỉ được Thiên Chúa sai phái đến như người loan tin, người đi trước dọn đường cho một Đấng Cao Trọng sắp đến. Gioan biết Chúa đã dành cho ông một vai phụ, và ông hài lòng với vai phụ đó. 

Kinh nghiệm cho thấy, trong cuộc sống, rất nhiều người muốn đóng vai chính, muốn làm những việc vĩ đại và lớn lao, họ cảm thấy bất mãn, buồn chán khi mình không đạt được ý nguyện, đang khi đó thì cuộc sống sẽ trở nên dễ dàng biết bao nếu ta biết khiêm tốn đứng sau và đóng vai phụ, nếu ta biết đón nhận và hết sức chu toàn bổn phận mà Chúa đang trao cho mình. Làm một công tác phụ cho Chúa tức là biến công tác ấy thành quan trọng, bởi vì đối với Chúa, mọi công tác đều đồng hạng, Chúa để ý đến nỗ lực của ta, chứ không quan tâm xem xét ta đang làm công việc gì. Các thánh không nên thánh vì nói tiên tri hay làm phép lạ, nhưng các ngài nên thánh vì đã chu toàn công việc bổn phận mỗi ngày. 

* Điểm III: Gioan Tẩy giả nói: “Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú rể đứng đó nghe chàng thì vui mừng hớn hở, vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,29-30). 

Qua câu nói này, Gioan gợi lên phong tục cưới xin của người Do thái. Trong đám cưới, người phù rể có một nhiệm vụ đặc biệt, đó là canh giữ phòng hoa chúc, không để cho kẻ giả danh nào lẻn vào phòng. Khi nghe và nhận ra đúng tiếng nói của chàng rể, người phù rể sẽ mở cửa phòng cho chàng rể vào với cô dâu, đoạn vui mừng ra đi vì đã hoàn thành nhiệm vụ. 

Cũng vậy, nhiệm vụ của Gioan Tẩy giả là đưa Đức Giêsu, tức chàng rể đến gặp dân Do thái, tức cô dâu. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ, Gioan rút lui vào bóng tối vì công việc ông đã làm xong. Gioan nói: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi”. Như vậy, khiêm tốn là không lôi kéo người khác theo mình, nhưng là theo Chúa; khiêm tốn là không ước muốn người khác trung thành với mình, nhưng là trung thành với Chúa. 

Qua vài phân tích trên, ta biết thế nào là khiêm tốn, khiêm tốn là thấy được giới hạn của mình và nhận ra sự thành công của người khác ấy là do ơn Chúa ban cho họ. Khiêm tốn là vui vẻ đóng vai phụ với mọi khả năng Thiên Chúa ban cho ta. Khiêm tốn là làm nhỏ lại cái tôi kềnh càng, béo phì của mình, để Đức Kitô được lớn dần lên trong tâm hồn ta. Cuối cùng, một sự khiêm tốn như vậy sẽ giúp ta bắt chước gương Đức Kitô, Đấng là Chúa là Thầy, nhưng đã cúi mình xuống để rửa chân cho các môn đệ như một người tôi tớ. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu dạy chúng ta rất nhiều điều, nhưng Ngài chỉ trực tiếp mời gọi ta học nơi Ngài hai điều đó là hiền lành và khiêm nhường, Đức Giêsu bảo: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường, tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,29) 

KẾT LUẬN 

Tóm lại, chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Vọng, mùa đón chờ Chúa đến, trong buổi tĩnh tâm hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta biết chuẩn bị đón Chúa bằng cách sám hối thực lòng; bằng cách dọn một con đường bằng phẳng trong tâm hồn cho Chúa đến, và bằng cách phục vụ trong khiêm nhu. Có như vậy thì tâm hồn chúng ta sẽ trở thành máng cỏ đơn sơ cho Chúa Hài Đồng ngự vào. Ngài ngự vào không chỉ trong Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, nhưng trong suốt cuộc đời chúng ta.
=> Đọc thêm...

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

LỄ CHÚA KITÔ VUA - C

Bài đọc 1 : 2 Sm 5,1-3 : “Họ xức dầu tấn phong Đa vít làm vua Ít-ra-en”Bài đọc 2 : Cl 1,12-20 : “Chúa Cha đã đưa chúng ta vào vương quốc Thánh Tử chí ái”
Tin Mừng : Lc 23,35-43 : “Khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !”

Sứ Điệp Lời Chúa : Vua trên thập giá

1. Mẫu thuẫn ngàn đời 1

Bản chất của con người có “xã hội tính”, nghĩa là con người cần phải được sống với ai, trong một tập thể, một cộng đoàn, một gia đình, một xã hội. Tập thể thi luôn phải có tổ chức, có luật pháp và có quyền bính. Khát vọng được sống trong một xã hội người, đó là một trong những khát vọng cơ bản của bản chất người.

Nhưng quyền bính cũng lại là một thách đố. Người lãnh đạo là người cầm nắm một sức mạnh có thể thống trị, giống như là cầm nắm một cái búa. Chuyện buồn của con người là người ta thường không có khả năng điều kiển được cả một cái búa. Cầm búa trong tay, thú tính nổi lên, và người ta muốn có cái gì đó để đập. Cái búa của quyền bính thì ghê gớm hơn nhiều, vì nó cho phép người lãnh đạo có nhiều cách đập và đập được nhiều người.

Con người khao khát được sống hạnh phúc trong cộng đoàn, nhưng lại thường bị hành khổ vì các nhà lãnh đạo của mình. Đó là mâu thuẫn ngàn đời số 1, và đó là nguồn gốc của một lòng khát vọng, mong chờ một Vị Minh Quân trong dân tộc Do thái.

2. Mâu thuẫn ngàn đời 2

Con người mong được hạnh phúc, nhưng thường không nhận biết được đâu là hạnh phúc thực của mình. Người đói chỉ cần miếng ăn, người khát chỉ cần được uống, người rét chỉ cần áo mặc,… và còn rất nhiều điều vớ vẩn mà người ta lại tưởng rằng nhất nhất phải có được.

Vì không biết được hạnh phúc thật của mình, người ta đòi người lãnh đạo phải đáp ứng đúng sở thích của mình; vì chỉ biết sống cho mình, người ta đòi người lãnh đạo phải đáp ứng nhu cầu riêng của mình, bất kể điều đó có làm thiệt hại cho người khác hay không.

Dân chúng, các thủ lãnh, lính tráng và cả tên gian phi cùng chịu đóng đinh với đức Giêsu đều lên tiếng chửi rủa đức Giêsu, vì không thấy Chúa đáp ứng nhu cầu riêng của mình.

Đây cũng là mâu thuẫn ngàn đời.

3. Chỉ có vị vua đích thực và người thần dân đích thực

Thư Phi-líp cho chúng ta thấy hành trình làm vua của đức Giêsu : Ngài vốn là Thiên Chúa, nhưng không nhất quyết giành lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài tự nguyện hy sinh trên thập giá, rồi sau cùng mới lãnh nhận quyền bính thực sự của Ngài. Chỉ có một vị Vua đích thực, đó là Vị Vua dám hy sinh chính mạng sống của mình cho thần dân. Đức Giêsu là Vua mà ngai vàng lại chính là thập giá.

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy chỉ có một thần dân đã chân nhận vương quyền của đức Giêsu, đó là người đã nhận ra thực trạng con người của mình :

“Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm”.

Đó là người còn giữ lại một chút lương tri ngay thẳng của một con người :

“Chứ ông này đâu có làm điều gì trái !”

Đó là người tin vào phẩm vị Vua của đức Giêsu ngay trong hình dáng một con người tội phạm. 

“Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” 

Tạm kết 

Đức Giêsu là vị Vua đích thực, Ngài dám chết cho mỗi người chúng ta, chết trên thập giá, và chết hằng ngày trong bí tích Thánh Thể.

Thần dân của Vua Giêsu là người dám tin vào phẩm vị Vương đế của đức Giêsu trong tâm bánh Thánh Thể nhỏ nhoi.
=> Đọc thêm...

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

SỨ VỤ GIẢNG THUYẾT

Tổng quyền Brunô Cadoré

THƯ MỪNG GIÁNG SINH VÀ NĂM MỚI 2010
Hướng tới kỷ niệm 800 năm thành lập Dòng

Làm thế nào mà rao giảng, nếu không được sai đi?

(Rm 10, 13 – 15)


Rôma ngày 29.11.2009
Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng

Thân gửi toàn thể anh chị em Đa Minh,

Trong bầu khí chuẩn bị mừng những ngày lễ cuối năm, tôi gửi tới toàn thể anh chị em lá thư sau cùng nhân dịp lễ Giáng Sinh trong nhiệm kỳ của tôi. Tôi mong ước rằng những lời lẽ và văn phong trong thư này sẽ thấm đượm những lời cầu chúc tốt lành cũng như những định hướng khả dĩ – năm này tiếp nối năm kia – hướng tới kỷ niệm 800 năm ngày thành lập Dòng (1216 – 2016). Nhân dịp này, 2010, niềm vui của chúng ta cũng nhân lên gấp đôi bởi vì, như một Thiên ý sắp đặt, gợi lại cho chúng ta một sự kiện rất ý nghĩa trong lịch sử Dòng : đó là dịp kỷ niệm 500 năm ngày thành lập cộng đoàn anh em Đa Minh đầu tiên tại Mỹ Châu. Vì thế, khi đặc biệt dành năm nay để suy tư về “sứ vụ Giảng thuyết” sẽ giúp tâm hồn và cõi lòng chúng ta rộng mở hơn, đồng thời sẽ cống hiến một khung cảnh lý tưởng cho việc tổ chức Tổng Hội Bầu Cử tới đây.

Đời sống Đa Minh chúng ta đặc biệt nhắm tới việc truy tìm và hiểu biết Thiên Chúa, việc gìn giữ và đào sâu đức tin và, qua việc giảng thuyết của mình, chắc chắc sẽ đòi chúng ta “chịu trách nhiệm” về đức tin của anh chị em mình, cho tới tận cùng thế giới.

Thánh tổ phụ Đa Minh đã ý thức rằng, sẽ không đủ để gìn giữ gia sản đã nhận được : một kho tàng đức tin và đạo đức không ngừng nẩy nở. Quả thực như vậy, bổn phận này, đầy những cam go và thử thách cho chúng ta, sẽ không đủ. Vì thế, việc canh tân lại nội dung đức tin thật cần thiết biết bao, không phải chỉ vì đức tin (cách khách quan) bởi vì chắc chắn đức tin luôn tồn tại cách nguyên vẹn và liêm khiết (integre), mà cách chủ quan, nơi mỗi người chúng ta, trong cộng đoàn và thể chế chúng ta, trong nền văn hóa và trong cuộc sống của chúng ta. Thực sự ngày càng khẩn thiết và cấp bách để có một đức tin chín mùi hơn và hướng tới việc truyền giáo hơn !

I. “Chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu” (Ga 12, 20)

Chúng ta được mời gọi để truy tìm và nhận biết Thiên Chúa.

Thời gian Giáng Sinh mời gọi chúng ta thưởng thức những ngôn từ tuyệt vời của ngôn sứ Isaia : “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã nhìn thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” (Is 9,1).

Còn trong chính ngày đại lễ Giáng Sinh, một bản văn khác được công bố - phần III, sách ngôn sứ Isaia - cũng đưa ra một chủ đề khác về ánh sáng : “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi : Con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được bồng ẵm bên hông. Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha : tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.” (Is 60, 1 – 6).

Đoạn văn trên, chắc chắn, đã cống hiến cho chúng ta một hình ảnh thật rõ ràng và thực tế. Trước sự hiện diện của “Ánh Sáng”, tất cả dường như bắt đầu chuyển động : thiên nhiên, lòng người, các vua chúa, các dân tộc. Kinh nghiệm giống như như Mô-sê trong sa mạc nhìn ngắm bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi, điều đó thúc đẩy chúng ta phải nhúc nhích, phải tự đặt ra những câu hỏi, phải bắt đầu vận động ! chúng ta không thể cứ ở lì một chỗ như là không có chuyện gì xảy ra vậy !

Rất may mắn là trong mùa Giáng Sinh, hành trình của các nhà Đạo Sĩ được giới thiệu cho chúng ta như một bức họa của việc truy tìm khôn ngoan, một chuyển động cùng lúc vừa sâu lắng vừa hướng tới. Tôi nói là may mắn bởi vì chúng ta bắt đầu một năm mới mà Dòng sẽ đặc biệt dành để suy tư về việc sai đi những tông đồ, các nhà truyền giáo và những vị loan giảng Tin mừng.

Chàng trai trẻ Đa Minh, ngay khi còn trong giai đoạn ngồi trên ghế nhà trường tại Palencia, chính cậu đã nhìn thấy sự đau khổ của dân chúng. Những cuốn sách, đối với chàng, đã không trở thành “những tấm gương soi mà trong đó chàng có thể đối diện” với chính mình, hoặc những bức tường cũng không thể ngăn cách chàng với những người đang trong cơn đói khát. Nhưng ngược lại, việc học đã mở ra cho cậu một nhãn quan hướng tới những điều mà nhiều người khác không thấy hay không muốn thấy. Đó cũng chẳng phải là một giai đoạn đặc biệt, bởi vì sau đó và trong suốt cuộc đời của vị Tổ phụ, sự nghiên cứu, cái nhìn về Đức tin, nhiệt tâm tông đồ đã thúc đẩy cậu phải thường xuyên ra đi, phải luôn khám phá những vùng đất mới : Osma, và xa hơn vùng Castille quê hương cậu, Languedoc, Marches, Prouille và Fanjeaux, Toulouse, Rome, Madrid, Paris, Lombardie, Bologne; và còn vượt xa hơn thế, bằng một khát khao cháy bỏng trong trái tim cậu, đó là vùng đất của những người Lạc Giáo (Cumans).

Vào thế kỷ 15, tại Tây Ban Nha cũng như nhiều nơi khác ở Âu châu, Dòng đã gặt hái được những thành quả nhờ cuộc Cải Tổ do chân phước Rây-mun-đô Ca-pu-a khởi xướng và thúc đẩy. Trong số những tu viện được cải tổ, chúng ta thấy có tu viện Avila - Salamanca, mà từ đây đã có những nhà truyền giáo Đa Minh tiên phong cho vùng “Tân Thế giới” (Mỹ Châu).

Chúng ta trở lại với các vị Đạo sĩ Đông phương. Họ đã tìm kiếm và chăm chú theo dõi, nghiên cứu và quan sát bầu trời. Trên hành trình của mình, họ đã cố gắng liên kết giữa những suy nghĩ của mình với dữ kiện lịch sử và thực sự về việc hạ sinh của Đấng Mêssia. Khi quan sát trong không gian vô tận và trong thiên nhiên, rồi khi nghiên cứu trong khoa học, họ nhận thấy dấu chỉ hướng dẫn họ đường đi.

Vậy chính chúng ta cũng hãy thử áp dụng như vậy khi chú tâm vào việc nghiên cứu, các vị Đạo Sĩ đã hy sinh thời giời, đã cống hiến sự bình yên, và đã cất bước đăng trình. Trong hành trình của mình, các ngài cũng chẳng ngần ngại tìm kiếm sự trợ giúp trong những ngôn ngữ loài người, để có thể hiểu được những điều vượt quá khả năng của họ (như ánh sáng từ trên cao, Thiên Chúa). Trong chuyến đi này, các ngài đã thật kiên trì khi đối diện với sự thử thách cam go, đó là nhịp điệu lúc ẩn khi hiện của ánh sao trên trời và sự hướng dẫn của con người. Nhưng hơn thế nữa, họ đã không e ngại để giải thích mục đích chuyến viễn du của mình. Họ không hề phàn nàn về việc không có người hướng dẫn và cũng chẳng có các đồ đệ, những người có thể chuẩn bị cho chuyến đi của họ, hay làm cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn, khi giúp họ có được những thông tin cần thiết. Hành trình dài đã dẫn các ngài tới niềm vui của sự gặp gỡ, một Trẻ thơ trong dáng vẻ đơn sơ, nghèo nàn và khiêm tốn. Các ngài đã tìm kiếm và đã gặp được Trẻ Thơ, Đấng mà các ngài đến để tôn thờ và kính dâng lễ vật. Các ngày vui mừng để lại tất cả lễ vật, và sau cùng biến mất.

Đối diện với Thiên Chúa, Đấng dường như cùng lúc vừa tự mặc khải lại vừa tự ẩn mình trong sự nhiệm mầu, một trẻ thơ bọc trong tã, các Đạo sĩ dạy chúng ta rằng cơ may của sự tin tưởng là quà tặng của Thiên Chúa và đòi hỏi sự cộng tác của chúng ta. Điều đó có nghĩa rằng : món qua đó đòi hỏi tất cả nghị lực của ý chí chúng ta, sự đúng đắn của trí khôn, và rằng chúng ta phải chú tâm tới quà tặng này.

Phải chăng chúng ta đang tìm kiếm Thiên Chúa ? ĐTC Gioan Phaolô II đã nhắc lại cho những anh em tham dự Tổng hội Bầu cử năm 1983 rằng, một trong những suy nghĩ chủ đạo của sứ vụ của Dòng đó là tính đơn nhất tuyệt đối (le primat absolu) của Thiên Chúa trong lý trí, tâm trí, và cuộc sống con người. Sứ vụ của chúng ta là loan báo rằng Thiên Chúa chúng ta hằng sống, rằng đó là Thiên Chúa của sự sống, rằng phẩm giá con người, phẩm giá mà con người được mời gọi sống, bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Sự dốt nát, tính trơ lỳ, sự thờ ơ, sự bất khả tri, tính nghi ngờ cố chấp, tính buồn phiền tinh vi (sự nhàn rỗi vô tích sự), một vài trường phái tâm linh gắn với những kinh nghiệm nội tâm của riêng mình, tính giản lược vào sự hiểu biết chỉ dựa trên sự chân nhân từ những dữ kiện khả giác hoặc những lý lẽ hiển nhiên, và còn biết bao những biểu hiện khác nữa của nền văn hóa trong thời đại chúng ta, kết cục sẽ dẫn đến suy nghĩ của con người là vứt bỏ nghĩa vụ trước nhất của đời sống : Nhận biết Thiên Chúa.

Đó là một trách nhiệm mà chúng ta phải thức tỉnh trong chính chúng ta, đồng thời cũng phải biết rằng vì đó mà cần phải bắt đầu vận động : suy nghĩ, học hỏi, rèn luyện, tự đào tạo, cầu xin quà tặng của đức tin.

Thực vậy, hành động của đức tin không thể miễn chuẩn cho chúng ta việc học hỏi (thần học), việc tôn thờ và yêu mến chân lý đã lãnh nhận (đọc, chiêm nghiệm, cầu nguyện), việc liên kết giữa đức tin và đời sống chúng ta (nhân đức, đời sống kitô giáo).

II. “Hãy trung thành với giáo lý mà anh đã học được… Anh biết là anh đã học được với ai” (2 Tm 3, 14)

Chúng ta đã được mời gọi để gìn giữ và đào sâu đức tin

Trách nhiệm của đức tin không thể bị giới hạn vào việc truy tìm việc nhận biết Thiên Chúa. Đức tin đòi hỏi phải được đón nhận như một tặng phẩm cao quý, phải được giữ gìn và đào sâu, phải được vun trồng ! và phải sống !

Theo ghi nhận trong Tin mừng thánh Mat-thêu (2,1-12), các vị Đạo Sĩ bị lạc mất ánh sao dẫn đường, nhưng đã không vì thế mà các ngài bỏ cuộc, không tiếp tục đi tìm vị vua người Do thái đã hạ sinh. Các ngài không quên điều đã nhìn thấy, ánh sao, điều đã thúc giục các ngài lên đường. Dấu chỉ ánh sáng đã được ban cho các ngài, và các ngài tiếp tục xác tín vào tầm quan trọng của ánh sao. Lòng trung thành mà nhờ đó được tỏ lộ cho các ngài, nên các ngài đã kiên trì với cuộc hành trình tìm kiếm của mình. 

Đầu thế kỷ 16, tại vùng đất “Tân Thế Giới”, cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa đã bắt đầu có những khó khăn đáng kể trong việc hội nhập. Như việc áp dụng giải pháp trước tiên đối với những khó khăn về sự sai lệch tiêu chuẩn niên đại, được sử dụng giữa những miền và những nền văn hóa khác nhau. Như là, theo thói quen, họ có thể trông đợi được điều gì, những người yếu đuối nhất và luôn phải chịu đựng những hậu quả tiêu cực.

Đối diện với thời điểm và với không gian mới của việc phúc âm hóa, Tổng hội năm 1508 Dòng đã trả lời, như Dòng đã từng làm trong lịch, bằng cách gửi đi những nhà truyền giáo. Trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cải tổ sâu sắc, nên tinh thần của các anh em đã khích lệ anh em dấn thân vào sứ vụ.

Trong số những anh em đáp lại lời mời gọi này, chúng ta thấy có tu sĩ Pedro. Anh sinh năm 1482 tại Córdoba, trong một gia đình quý tộc. Năm 1497 anh bắt đầu việc theo học luật tại Salamanca, và cũng chính tại đây mà ơn gọi Đa Minh của anh đã nảy sinh. Anh gia nhập Dòng năm 1502 và khấn dòng vào năm sau. Sau 6 năm theo học, anh được bổ nhiệm vào cộng đoàn tu viện Avila cùng với các anh em khác như Antonio de Montesinos, Bernardo de Santo Domingo và Domingo de Villamayor, những người bạn đồng hành, và cùng với họ anh gia nhập vào nhóm những anh em Đa Minh đầu tiên tại Châu Mỹ. Cả nhóm đã đặt chân lên đảo Hispaniola vào tháng 9.1510. (Thật may mắn là Tổng hội của Dòng sẽ nhóm họp vào tháng 9 tới để nhắc lại biến cố này và canh tân lại trong chúng ta tinh thần truyền giáo như vậy).

Những anh em này, với những phương tiện nghèo nàn, đã bắt tay ngay vào sứ vụ tông đồ của mình, và chẳng bao lâu sau, anh em ý thức về tiềm lực rộng lớn của con người được chứa đựng trong những nền văn hóa khác nhau có khả năng đón nhận Tin mừng. Và cùng lúc đó, anh em cũng nhận thấy những vấn đề sâu sắc và khó khăn trong sứ vụ của mình, chẳng hạn như thật khó khăn để hội nhập vào các nền văn hóa nơi đây đối với những người Âu châu; như làm thế nào để bào chữa cho tình trạng nô lệ, và cho những hình thức cưỡng bức đón nhận tin mừng của những nhà truyền giáo khác…

Với tinh thần Đa Minh, những anh em Giảng thuyết này đã chấp nhận những thử thách đối mặt với tình cảnh đó là của cả cộng đoàn, với tất cả những hậu quả để lại. Sử Dòng đã luôn ghi nhớ như một thánh lễ thực sự, bài giảng Chúa nhật thứ IV mùa Vọng, ngày 21.12.1511 do tu sĩ Antonio de Montesinos trình bày, và được đúc kết trong một câu rất nổi tiếng mà anh đã phải kêu lên : “Họ không phải là những con người sao?”, ý muốn nhắm vào những người dân bản địa, những con người bị chà đạp và bị ngược đãi.

Đó là khởi đầu một quá trình lâu dài, vừa đau đớn vừa nẩy sinh, để suy nghĩ và hành động, mà từ đó phát sinh tương lai nhân quyền của các dân tộc, và một cách thức mới để tiếp cận với việc phúc âm hóa các dân tộc. Tu sĩ Perdro Cordoba, cách nào đó, được coi như linh hồn của phong trào này, tại Tây Ban Nha cũng như tại Mỹ Châu. Anh đã khơi gợi lên tại trường đại học Salamanca một công việc trí thức, đã áp dụng những phương pháp mới cho công cuộc phúc âm hóa tại Mỹ Châu, đã tạo nên một trường phái các học trò, trong số đó phải kể tới anh Bartolomé, người được coi như một “Phaolô mới”, đang là kẻ thù của thổ dân Mỹ châu đã trở thành một trong số những người hăng say bệnh vực họ nhất.

Trong những năm vừa qua, các anh Vincent Couesnongle, Damian Byrne và Thimothy Radcliffe, các vị BTTQ, trong rất nhiều thư hay thông điệp gửi cho toàn Dòng, đã đặc biệt nhấn mạnh tới hoa trái dồi dào của trao đổi giữa các anh em Đa Minh tại đảo Hispaniola, ngay từ đầu đã cống hiến những bài giảng mục vụ tuyệt vời, với những anh em thần học gia tại trường đại học Salamanca; những anh em này đón nhận những ưu tư của anh em mình như một lời khích lệ thực sự để nghiên cứu và suy tư. Và đến lượt mình, những anh em này lại cống hiến những nền tảng đức tin vững chắc và sâu sắc cho sứ vụ ngôn sứ của những anh em đang ở “tiền tuyến”, để tố cáo những kẻ đối nghịch và tự phụ, để an ủi những người thất vọng và bị ức hiếp, để khích lệ những người đang chao đảo ngã lòng.

Những anh em Giảng thuyết này, dù nơi giảng đường đại học hay trong những căn chòi vách đất, vẫn tiếp tục truyền đạt lại cho chúng ta sự bí nhiệm của ơn gọi ngôn sứ : trách nhiệm đối với đức tin, bảo tồn di sản đã lãnh nhận qua khả năng đọc ra được những sự kiện nhờ ánh sáng Lời Chúa; đào sâu đức tin qua việc đọc lời Chúa để rút ra được cối lõi của thực tại. Ngày nay, đọc ra các sự kiện dưới ánh sáng Lời Chúa còn cho phép chúng ta có tầm nhìn xa và sâu hơn, vượt ra bên ngoài những dữ kiện. Nhờ đó chúng ta tránh được việc phân mảnh theo kiểu thuyết tương đối, tránh được chứng “tê bại” có thể tạo cơ hội cho sự phân tích vô tận những vấn đề, đó là đặc tính của phòng thí nghiệm. Nhưng những nhà Giảng Thuyết, dù nơi giảng đường hay trong căn căn chòi vách đất, đều phải cố gắng đọc Lời Chúa trong mối liên hệ với những gì đang diễn ra, với những sự kiện, mà qua đó Thiên Chúa cũng muốn nói với con người một vài điều gì đó (những dữ kiện có thể trở thành những chỉ dẫn, những dòng suy tư, hay “dấu chỉ thời đại”!) Với cách thức này chúng ta cũng tránh được sự quá bám víu vào nền tảng cứng ngắc và cằn cỗi, là đặc tính của thuyết phân biệt thiện – ác.

Ngày 23.05.2007. trở về từ Brasil, sau khi bế mạc Công nghị lần thứ V của Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La-tinh và vùng Caribê, ĐTC Bê-nê-đi-tô XVI đã nói : “Kỷ niệm của một quá khứ vinh quang thì tất nhiên không thể nào không nhận ra, những hình bóng đã đồng hành cùng công cuộc phúc âm hóa tại Châu Mỹ-latinh. Quả thực là không thể nào quên được những đau đớn bất công mà những kẻ xâm lược đã gây ra cho những người dân bản địa, những người thường xuyên bị khinh rẻ trong những quyền căn bản của con người. Nhưng sự thực nêu lên ở đây - chính xác là những tội ác không thể bào chữa, vả lại đó cũng là những tội ác đã bị các nhà truyền giáo như Bartolomé de Las Casas, những thần học gia như Francisco de Vitoria thuộc trường đại học Salamanca tố cáo - không thể nào cản trở việc nhắc lại chứng từ với lòng biết ơn của những công trình kỳ diệu, đã được thực hiện do hồng ân Thiên Chúa, nơi các dân tộc trong những thế kỷ đó. Nơi Châu lục này, Phúc âm đã trở thành yếu tố chứa đựng một tổng hợp năng động, tất nhiên với những phương diện khác nhau tùy theo từng vùng, để diễn tả căn tính của những dân tộc Châu Mỹ-latinh. Ngày nay, với thời đại toàn cầu hóa, căn tính công giáo này vẫn còn tự thể hiện như một lời giải đáp thích hợp nhất, với điều kiện là phải được thúc đẩy bởi một sự huấn luyện tâm linh nghiêm túc, và bởi những nguyên tắc của học thuyết xã hội của Giáo hội.”

Kinh nghiệm của ba vị Đạo Sĩ, cũng như của rất nhiều vị thánh nam nữ của Dòng, đã dạy chúng ta một bài học : là đừng khi nào vứt bỏ đi những điều chúng ta đã nhận biết như là sự thật, nhưng hơn thế, hãy trung thành với đức tin.

Chúng ta là những chứng nhân của một vài khác biệt về tôn giáo, của hiện tượng chối bỏ Kitô giáo, của một số các biểu hiện đa thần giáo, những hiện tượng này khích lệ chúng ta hướng về Giáng Sinh như một ngày lễ của đức tin. Hành trình của các vị Đạo Sĩ thúc đẩy chúng ta đón nhận với lòng biết ơn di sản thiêng liêng rộng lớn, mà chúng ta là những người thừa kế thừa, một kho tàng bắt nguồn từ cha anh chúng ta và được giao lại cho chúng ta. Thực vậy, chúng ta có trách nhiệm gìn giữ và lưu truyền lại nguyên vẹn di sản này.

Nhưng để gìn giữ đức tin cũng thực sự không đơn giản chút nào. Phải chăng tự nhiên mà những thượng tế và ký lục đã bị vua Hêrôđê triệu vời ? Họ hầu như rất am hiểu Kinh thánh và đã trả lời rất chính xác cho câu hỏi về những thông tin mà các Đạo sĩ muốn biết. Điều đó nói lên rằng, họ đã không có khả năng nhìn thấy trách nhiệm mà việc hiểu biết đức tin đòi hỏi và thúc đẩy. Họ đã không để cho bị chất vấn bởi sự hiểu biết này, họ đã không hề nhúc nhích cũng chẳng lên đường tìm kiếm Đấng mà các lời tiên tri đã loan báo, họ đã không thuận theo việc gìn giữ đức tin và không sống đức tin.

Với những ai chiêm ngắm mầu nhiệm Giáng Sinh, với những ai dõi theo đường lối của thánh Đa Minh và chọn lựa lịch sử của dòng như là của mình, thì sẽ không đủ khi chỉ “bảo tồn” đức tin, nhưng điều cần thiết là phải học hỏi, đào sâu, theo những đòi hỏi trong cuộc sống cá nhân và đời sống của những người xung quanh chúng ta, cuộc sống của những người mà vì họ chúng ta được sai đi.

Chân lý mà đức tin mặc khải cho chúng ta, thúc đẩy chúng ta tới việc kiếm tìm ở phía bên kia, mở ra một cuộc đối thoại thiêng liêng và khơi gợi lên lòng nhiệt thành nội tâm.

Đào sâu đức tin có nghĩa là đào sâu những lý lẽ của đức tin, như trong thư thứ nhất của thánh Phêrô đã khuyến khích chúng ta : “hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” (1 Pr 3,15). Việc bồi bổ đức tin, “chịu trách nhiệm về đức tin” thực sự là điều không thể phân rẽ của mối liên hệ cốt yếu với Giáo hội, mà vì đó đức tin bao gồm một đòi hỏi sâu xa có tính cách công giáo, duy nhất, tông truyền, một đòi hỏi làm cho sự thánh thiện của Giáo hội khả dễ thấy hơn.

III. “Làm công việc của người loan báo Tin mừng và chu toàn chức vụ của anh.” (2 Tm 4,5)

Chúng ta được mời gọi “để chịu trách nhiệm” về đức tin của người khác, và vì thế chúng ta trở thành những nhà truyền giáo.

“Chịu trách nhiệm về đức tin” mở ra một chân trời mới cho thế giới và cho lịch sử. Đó là bài học về chiều kích phổ quát của lễ Giáng Sinh, nơi lý tưởng của thánh Đa Minh, nơi lòng nhiệt thành của những ai cất bước ra đi bởi vì họ được sai đi.

Tin Mừng theo thánh Mat-thêu thuật lại cho chúng ta rằng, khi ba vị Đạo Sĩ nhìn thấy ngôi sao thì lòng họ tràn ngập niềm vui (x. Mt 2,10). Và thật ngẫu nhiên, đó chẳng phải là một trong những điểm đáng chú ý của những vị thánh nam vữ của Dòng sao ? Thánh Phaolô, trong thư gửi giáo đoàn Philiphê, đã khuyến khích chúng ta rằng : “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại, vui lên anh em !” (Pl 4, 4). Đó thực là niềm vui của đức tin, một niềm vui cần phải được sống và biểu lộ hơn nữa trong các cộng đoàn của chúng ta, trong những cuộc đối thoại huynh đệ của chúng ta, trong những giờ phụng vụ, trong việc học hỏi nghiên cứu và trong việc giảng thuyết của chúng ta. Bởi vậy, cần biểu tỏ đức tin cách cuốn hút, xán lạn và nhiệt huyết hơn nữa, để khi tiếp xúc và nghe lời giảng của chúng ta, đức tin sẽ tăng triển nơi những người ước mong được nhận biết Thiên Chúa. Rất nhiều trong số những người mong muốn đến gặp chúng ta – như những người Hy-lạp đến với tông đồ Philiphê – để bày tỏ ước vọng của mình mà không hề giả dối : chúng tôi muốn gặp ông Giêsu ! (Ga 12,20-21).

Lễ Giáng Sinh thể hiện uy quyền nơi sứ mạng của Đức Kitô, được mời gọi làm cho lan tràn ra cả và nhân loại, và thức tỉnh trong chúng ta ơn gọi công giáo và phổ quát này. Đức Kitô thuộc về tất cả, đàn ông cũng như đàn bà, cho mọi thời đại và mọi quốc gia. Sứ mạng của 12 Tông đồ theo như trình thuật của thánh Mat-thêu, lúc đầu chỉ nhắm tới “những con chiên lạc nhà Israel”, chứ không phải cho những dân ngoại hay với các thành Samari (Mt 10,5-6); Nhưng sau khi Phục Sinh, lời mời gọi truyền giáo đã mở rộng tới chiều kích phổ quát. “Đức Giêsu tới gần, nói với các ông, Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữa mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 18-20).

Lời kêu mời này đặc biệt mời gọi Dòng chúng ta phải canh tân lại ơn gọi truyền giáo của mình, với một sắc thái đặc thù mang tính phổ quát, rộng lớn và đậm nét; qua lời tuyên khấn, chúng ta được thánh hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và chúng ta hiện diện trong Hội Thánh hoàn vũ bằng một cách thức mới mẻ, khi hoàn toàn hiến dâng cho việc loan báo cách nguyên vẹn Lời Thiên Chúa. (xc. HP 1 § III).

Chân lý mà chúng ta loan giảng nói với chúng ta về chiều dài - rộng - cao - sâu của tình yêu Đức Kitô, Đấng vượt lên trên mọi nhận thức như một nguyên lý của tính duy nhất. Chân lý thấm nhập vào lịch sử nhân loại, và làm cho chúng ta trở thành anh em, xây lên những chiếc cầu nối và phá bỏ những bức tường ngăn cách của lòng người, mở ra nguồn suối bình an, kêu mời tất cả mọi dân tộc, mọi gia đình, chủng tộc, ngôn ngữ và quốc gia. (xc. Kh 5,9).

Noi theo mẫu gương của thánh Tổ phụ Đa Minh, người “luôn thao thức về ơn cứu độ của tha nhân và của mọi dân nước”, “chân lý” này - cũng là châm ngôn của Dòng - khích lệ chúng ta hướng tới một nhiệt huyết mới trong sứ vụ truyền giáo, đối diện với một sự tương phản giữa một bên là việc kêu mời tất cả mọi người, đàn ông cũng như phụ nữ, quay về với đức tin Kitô giáo, và một bên là thực tế vẫn còn rất nhiều người chưa hề biết tới Kitnh thánh.

Giống như nhạc sĩ rất danh tiếng, Antonín Dvořák, Dòng được mời gọi viết lại và diễn tấu một “bản giao hưởng cho Tân Thế giới” mới cho những “Tân Thế giới” ! Thực vậy, có bao nhiêu “Thế giới” ngày hôm nay đang chờ đợi sự hiện diện của chúng ta, khi mà chúng ta khơi lên biến cố đặc biệt của cộng đoàn tiên khởi tại miền đất Châu Mỹ, và đang hân hoan hướng tới việc kỷ niệm 800 năm ngày thành lập Dòng ?

Chúng ta phải quý chuộng trách nhiệm của mình đối với đức tin của tha nhân. Chúng ta thực hiện điều đó với đức tuân phục qua lệnh truyền tông đồng, truyền giáo và mang Tin mừng; và hơn một lần, bằng việc tự đặt mình trong tay những người, như trong ngày tuyên khấn dòng đầu tiên của mình, sẽ sai chúng ta đi; bằng việc tự làm cho hòa hợp với nhu cầu của Dòng, theo khả năng của mình trong sứ vụ phục vục Đức Kitô.

Qua việc tuyên khấn, trong mối tương quan mật thiết với Hội thánh, chúng ta được đặt lên làm tông đồ, người loan báo Tin mừng, nhà truyền giáo. Liệu chúng ta có bằng lòng với một đức tin dễ dãi, co rút trong chính chúng ta và đóng kín nơi chính đức tin đó, trong khi chúng ta cũng đã nhận được cùng ơn gọi như Ngôi Lời? Biết bao nhiêu người nơi nhiều quốc gia và nhiều vùng khác nhau trên thế gian này, đang chờ đợi chúng ta chia sẻ với họ việc tuyên xưng đức tin, và ơn gọi tu sĩ Đa Minh của chúng ta; đó có thể là một mẫu gương, những lời ủi an, những lời khích lệ. Ước mong rằng ánh sáng đức tin được chiêm nghiệm và được sống, luôn giãi sáng và tỏa chiếu trên những người mà chúng ta gặp gỡ; nhờ đó mà họ tìm thấy ánh sáng, phương hướng và sức mạnh cho chính cuộc đời họ. Chúng ta nên biết rằng, những người mà vì họ chúng ta được sai đến, cũng sẽ là mẫu gương, niềm ủi an và trợ lực cho chúng ta… và chính chúng ta cũng đón nhận được sự truyền giáo từ phía họ.

Giáng Sinh là niềm hạnh phúc cho những người ở miền xa xăm, là niềm vui cho những “sứ vụ” truyền giáo, cho những “nhà truyền giáo” và cho “những người được truyền giáo”; Giáng Sinh là niềm vui phổ quát của sứ điệp Kitô giáo (sứ điệp mà vì đó trở thành công giáo). Đó là niềm hạnh phúc của ơn gọi “của con người”, của lời mời biếu không cho tất cả mọi người hãy đến dự đến bàn tiệc Lời Chúa; và là niềm vui bởi vì tất cả cùng hiển trị với Đức Kitô, nhờ Người và trong Người.

Một cuộc sống được lôi kéo bởi ánh sáng của Đức Kitô và được chiếu sáng nhờ Người, sẽ biết lôi kéo người khác. Đời sống đó biểu lộ gương mặt của Thiên Chúa, Đấng là tình yêu, lòng nhân hậu và sự tha thứ. Ước mong rằng năm nay sẽ là năm “Giáng Sinh” cho tất cả mọi người, và là năm bừng cháy lên nhiệt huyết nơi tâm hồn chúng ta để mang Đức Kitô đến với thế giới. Bởi vì “tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin ? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe ? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng ? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi ? Như có lời chép : đẹp thay bước chân những sứ giả Tin mừng !” (Rm 10,13-15).

Để kết thúc những trang này, tôi xin ghi nhận nơi trái tim tôi những kỷ niệm với những hình ảnh tràn đầy màu sắc và nhiệt tâm, của nhiều cộng đoàn truyền giáo của Dòng mà tôi đã từng viếng thăm; đặc biệt biểu dương những nhà truyền giáo, các anh em cũng như các chị em thuộc nhiều cộng đoàn Đa Minh khác nhau. Thực vậy, các chị em của chúng ta thật can đảm biết bao! Chị em cũng dạy chúng ta biết bao điều! Tôi cũng không thể nào quên những đan viện hiện diện tại những miền đất nghèo khổ, trong những tình trạng thật khó khăn. Những đan viện này như là những ánh đèn pha tỏa sáng mà không làm chói mắt, và như là biển chỉ đường… Đó thực sự là những dấu chỉ của nền hòa bình, bởi vì Đức Kitô là Bình An của chúng ta (Ep 2,14).

Thật đẹp đẽ biết bao khi vẫn còn nhận thấy rằng “Hôm nay cũng như thời bấy giờ, ánh sao Be-lem vẫn tỏa sáng trong đêm tối mịt mùng !” (Edith Stein).

Chúc mừng Giáng Sinh ! Nguyện xin Đức Kitô ban đổ trên cho tất cả anh chị em trong năm mới 2010, tràn đầy những điều tốt lành, chân thật và đẹp đẽ… những điều từ Thiên Chúa !

Thân ái trong Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và thánh Phụ Đa Minh.

Tu sĩ Carlos A. Azpiroz Costa O.P.
Tổng quyền Dòng Anh Em Giảng Thuyết.
=> Đọc thêm...

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Bài đọc 1 : 2 Mcb 7,1.20-23.27b-29 : “Bà mẹ là người đáng khâm phục vì bà can đảm chịu đựng nhờ niềm trông cậy bà đặt nơi Đức Chúa”

Bài đọc 2 : Rm 8,31b-39 : “Dù sự chết hay sự sống cũng không tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa”

Tin Mừng : Lc 9,23-26 : “Ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”.
                   
                  Hoặc Ga 17,11b-19 : “Thế gian đã ghét họ”

Sứ Điệp Lời Chúa :

1. Giá trị của sự sống

Sự sống là yếu tố căn bản của mọi giá trị nhân văn. Trong thế giới con người, niềm khát vọng sống vẫn luôn là điều mơ ước của con người : sống lâu trăm tuổi, trường sinh bất tử… “Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống”(Tv 27,13)... Cũng thế, khi con người khao khát có con cái “được sống lâu bên đàn con cháu” (Tv 128,6), thì đó là khao khát được nối dài sự sống của mình. 

Trong niềm khao khát được sống, Sách thánh mạc khải cho thấy phẩm chất căn bản của Thiên Chúa chính là “Đấng hằng sống”; và Thiên Chúa là chủ tể của sự sống :

“Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?” (Tv 42,3)

Mọi sự sống đều phát xuất từ Thiên Chúa. Ngay cả sự sống của con vật cũng là bởi Chúa; và con người được quyền ăn thịt các con vật, nhưng không được ăn máu của chúng :

“Vì mạng sống của xác thịt thì ở trong máu…” (Lv 17,11)

2. Sự sống và cái chết

Sự sống là của Chúa, nên khi con người phạm tội, nghĩa là cắt đứt mối liên hệ với Chúa, thì con người tự chuốc lấy cho mình vận mạng phải chết:

“Người đàn bà nói với con rắn : "Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo : 'Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.'" (St,3,2-3)

Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn nắm quyền làm chủ sự sống của con người; và Ngài cấm tội sát nhân : 

“Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa”. (St, 9,5-6)

Tội lỗi không làm mất đi hình ảnh Thiên Chúa trong con người, nên nỗi khao khát được sống vẫn luôn thôi thúc trong lòng con người. Nhưng tội lỗi lôi kéo con người vào nẻo đường của sự chết, nên con người tìm cách để sống bằng những phương thế, những giá trị đưa đến cái chết : quyền lực, tiền bạc, hưởng thụ…. Vận mạng của con người nằm trong tình huống bi đát : khao khát được sống, nhưng không thoát ra khỏi được bóng ma của sự chết. 

Theo quan niệm của Kinh Thánh, sự sống của con người nằm ở “máu”, và con người cần được tìm lại được một sự sống đích thực bằng một lễ xá tội bằng máu :

“… và Ta, Ta đã ban máu cho các ngươi, trên bàn thờ, để cử hành lễ xá tội cho mạng sống các ngươi. Thật vậy, máu xá tội được vì nó là mạng sống”. (Lv 17,11)

3. Sự sống đích thực là Chúa Giêsu Kitô

Chỉ có một con đường tìm lại sự sống đích thực cho con người, đó là hy sinh mạng sống mình vì đức Giêsu Kitô, vì Ngài là Đường, là sự Thật và là Sự Sống, Sự sống đích thực. 

Điều mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi con người, thì chính đức Giêsu đã thi hành trước. 

“Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”. (Ga 10,11)

Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên, máu của Ngài đổ ra trên thập giá mang lại một sự thanh tẩy cho mọi tội lỗi. Nhưng đức Giêsu trao ban sự sống của mình chính là để lấy lại sự sống ấy sau cái chết :

”Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại”. (Ga 10,17)

Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, Người trở nên Thần Khí tác sinh, Ngài là Vua sự sống và con người chỉ có một con đường duy nhất để tìm lại được sự sống của mình, đó là “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người : đó là niềm tin của chúng ta.” (Rm 6,8)

Sự sống đích thực của con người, từ nay, chỉ có thể là sự sống sau cái chết; và con đường tìm lại sự sống đích thực của con người chỉ có thể là hy sinh mạng sống của mình trong niềm tin vào đức Giêsu Kitô :

“Ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”.

Tạm kết

Các thánh tử đạo là những người mang mạng sống của mình để chứng tỏ lòng trung tín với đức Giêsu. Đó là lời tuyên xưng đức tin, lời tuyên xưng bằng máu. Lời tuyên xưng bằng máu, bằng chính sự sống của mình chẳng những có thể xá tội cho bản thân mình, nhưng còn chứng tỏ một tình yêu “không có tình yêu nào lớn hơn”.
=> Đọc thêm...

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN - C

Bài đọc 1 : 2 Mcb 7,1-2.9-14 : “Vua vũ trụ sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời”.

Bài đọc 2 : 2 Tx 2,16—3,5 : “Xin Chúa cho anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành”

Tin Mừng : Lc 20, 27-38 : “Đức Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống”

Sứ Điệp Lời Chúa : Cuộc sống mai sau mang lại lẽ sống cho cuộc sống hiện tại.

1. Cuộc sống hiện tại

Con người luôn muốn tìm được cái lý của cuộc sống. Con người không thể chấp nhận lối sống của con vật, sống theo quy luật sức mạnh của sinh vật, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé. Ở đâu có con người, ở đó có nỗ lực sống đức độ; và xã hội con người luôn cần phải có luật pháp.

Tuy nhiên, thực tế cuộc sống lại là một thách đố mà dù có cố tìm bao nhiêu lý lẽ con người vẫn không lý giải hoàn toàn được. Dù khao khát đức độ, mỗi người đều vẫn luôn cảm thấy sức mạnh con vật rình rập, xô đẩy, lôi kéo mà ta không thể nào chống cự được. Dù xã hội con người có bao nhiêu luật pháp thì vẫn không thể thoát được quy luật cá lớn nuốt cá bé.

Văn hoá con người vẫn khẳng định “ở hiền gặp lành”, “trời cao có mắt”, “gieo gió gặt bão”…và ở đâu cũng có những câu chuyện cổ tích để “chứng minh” cho lẽ sống đẹp của con người; nhưng phần lớn những văn hoá ấy vẫn gần với ước mơ của một thế giới tương lai hơn là đúng với thực tế nghiệt ngã hằng ngày. 

2. Cuộc sống mai sau

Nói chung, tôn giáo thường là một khẳng định sự hiện hữu của thế giới mai sau. Việc chứng minh rõ ràng về thế giới tương lai là một điều không dễ và càng không dễ để thuyết phục mọi người. Tuy vậy, loại bỏ thế giới mai sau thì lại chính là hợp pháp hoá cho thế giới hiện tại, hợp pháp hoá cho tình trạng chưa hoàn hảo, tình trạng còn đầy những bất công của thế giới này. 

Ở đâu cũng có và thời nào cũng có những con người quá đau khổ vì hoàn cảnh “tự nhiên” của mình. Ở đâu và ở thời nào cũng đầy rẫy những người bị chèn ép, bị hành hạ, bị vùi dập một cách bất công, đau đớn cho đến chết. Và thật ra, ngay cả với những hành vi đạo đức cao cả, như hy sinh mạng sống mình vì người khác, mà nếu cũng chỉ là một nét đẹp luân lý, nghĩa là không được đền bù trong cuộc sống mai sau, thì cũng là một sự vô lý và bất công mà lương tri lành mạnh của con người không thể chấp nhận được.

Những người sa-đốc, vốn là những người không tin có cuộc sống mai sau, đã vẽ ra câu chuyện và một người phụ nữ có bẩy đời chồng mà không có con…để biện minh cho giáo lý của mình, nhưng chính lý lẽ ấy lại là lời tố cáo một thứ lương tri lệch lạc, một thái độ hợp pháp hoá cuộc sống vốn còn đầy bất công.

Quả thực, không có cuộc sống mai sau, con người tất nhiên sẽ bị lôi kéo không thể chống cưỡng để rớt xuống một lối sống theo quy luật của con vật. 

3. Khát vọng sâu xa nhất của con người

Đức Phật đã nỗ lực đi tìm lẽ sống khởi đi từ một lương tri ngay thẳng, nghĩa là đi tìm cách lý giải tình trạng khổ đau bằng lý thuyết luân hồi, trong đó có sự “điều khiển” nghiêm ngặt của qui luật nhân quả vô ngã. Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo…nhưng điều đó chỉ có thể đúng được khi đặt vào vòng luân hồi, nghĩa là lý giải cái phúc và cái nghiệp của đời người (quả), không phải chỉ trong thế giới này, mà là trong kiếp trước (nhân) và kéo dài đến kiếp sau… Quy luật nhân quả là quy luật nội tại của cuộc sống và quy luật ấy thấm nhuần toàn bộ vũ trụ. Tính cách luân lý của cuộc sống chi phối cả những hành vi của con vật….

Kitô giáo thì tin vào một Thiên Chúa ở bên ngoài thế giới này, một Thiên Chúa “siêu việt” (siêu nhiên); và chính Thiên Chúa là Đấng hoàn tất lẽ sống của con người. Kiếp sống duy nhất của con người, chỉ con người thôi chứ không phải cả những con vật, được lý giải trong cuộc phán xét. Ở hiền sẽ được thưởng và ở ác sẽ bị trừng phạt….

Hơn nữa, yếu tố căn bản của Kitô giáo không phải chỉ là lý lẽ công bằng mà là tình yêu, tình yêu không phá bỏ nhưng vượt trên sự công bằng. Hành trình đời người được hứa hẹn một hồng phúc mà không phải con người có thể tự tìm lấy cho mình, nhưng do Thiên Chúa yêu thương ban tặng :

“Ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau….Họ là con cái Thiên Chúa”.

Câu trả lời cuối cùng của Kitô giáo cho sự bất công không phải là lẽ công bằng, mà là một tình yêu tặng-không của Thiên Chúa là Cha.

Có phải không khát vọng sâu xa nhất của kiếp người không phải chỉ là lẽ công bằng “đừng làm cho người khác điều mình không muốn người khác làm cho mình”; nhưng là niềm khát vọng lớn lao hơn nhiều của thế giới yêu thương ? 

"Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12)

Tạm kết

Chỉ cần một lương tri ngay thẳng là có thể nhận ra cái sai lầm của nhóm Sađốc.

Nhưng mặc khải Kitô giáo lại mời gọi con người trở về khát vọng sâu xa hơn của trái tim con người, của khát vọng yêu thương, để lãnh nhận hồng phúc là Con Thiên Chúa.
=> Đọc thêm...